Monday, 24/01/2022 - 03:46|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Đại Ân 1A

CHUYÊN ĐỀ KHỐI 2 NH 2020-2021

CHUYÊN ĐỀ

“HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ PHẨM CHẤT

CỦA HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA MÔN ĐẠO ĐỨC”

 
 

 

                                   Thực hiện: Tập thể GV khối 2                                                                               

I. MỞ ĐẦU

Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta luôn quan tâm tới công tác chăm sóc, bồi dưỡng, giáo dục. Cùng với việc nhấn mạnh đến vấn đề học tập của các thế hệ thanh, thiếu niên Bác Hồ cũng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục đạo đức. Bác đã từng nói:                      Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

                          Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Hai câu thơ đã thể hiện quan điểm của Bác về sự hình thành và phát triển nhân cách của con người dưới sự ảnh hưởng của giáo dục. Từ đó, mỗi chúng ta cần phải thấm nhuần giáo dục đạo đức là một vấn đề quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh ngay từ bậc tiểu học.

Trong thực tiễn những dấu ấn của trường tiểu học có thể ảnh hưởng sâu sắc đến cả cuộc đời của học sinh. Chính vì vậy, việc giáo dục đạo đức phải được coi trọng và tiến hành ngay từ cấp Tiểu học. Các giá trị đạo đức ở tiểu học được giảng dạy có tính đồng tâm và cùng hướng tới hình thành cho học sinh có một số kiến thức sơ giản, kỹ năng thái độ cơ bản ban đầu để đặt nền móng cho học sinh tiếp tục học môn Giáo dục công dân ở cấp học trên.

  Môn Đạo đức ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng là giúp cho học sinh có những hiểu biết ban đầu, hình thành chuẩn mức đạo đức phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với thuần phong mỹ tục con người Việt Nam. Đồng thời nắm được ý nghĩa của việc thực hiện những chuẩn mực hành vi đạo đức đó. Từng bước hình thành cho học sinh kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân nhận xét, đánh giá hành vi của bạn bè và những người xung quanh. Qua đó, biết lựa chọn và thực hiện các chuẩn mực hành vi đạo đức áp dụng vào trong cuộc sống. Không những thế nó còn hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương quý trọng mọi người, thể hiện nếp sống văn minh, biết ý thức trách nhiệm với cộng đồng với dân tộc.

Từ thực tế giảng dạy môn Đạo đức ở các lớp hiện nay chỉ mới đáp ứng yêu cầu giáo dục đặc thù. Chúng ta cũng phải nhìn nhận thực tế rằng chưa được giáo viên và phụ huynh quan tâm đúng mức. So với môn Toán và Tiếng Việt thì môn Đạo đức ít được quan tâm hơn vì cho đó là môn học phụ. Đặc biệt là trong thực tế, hiện tại vấn đề đạo đức của học sinh và giáo viên trong những năm vừa qua dư luận quan tâm rất nhiều. Nguyên nhân chính là do đâu? Có lẽ với khuôn khổ của bài viết này chúng tôi không đề cập sâu vào vấn đề đó. Nhưng có lẽ trong thời gian qua các trường và cả giáo viên tập trung quá nhiều đến các môn học như Toán và Tiếng Việt nên đã xem nhẹ những bài học có giá trị đạo đức. Như ông bà ta thường nói:

                                              “Uốn cây từ thuở còn non,

                                        dạy con từ thuở con còn thơ ngây”.

Những bài học đạo đức ban đầu sẽ góp phần hình thành nên chuẩn mực đạo đức, những nhân cách của những đứa trẻ sau này. Những giá trị đạo đạo đức phải được luôn coi trọng được quan tâm dạy dỗ từ lúc còn thơ.

 Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Có đoàn kết mới có sức mạnh, từ tình yêu thương gia đình, bạn bè, làng xóm sẽ lan tỏa tình yêu ấy đến cộng đồng. Cũng chính từ tình yêu thương, sự đoàn kết sẽ bắt đầu. Như vậy, đối với môn đạo đức lớp 2 để học sinh có được sự yêu thương, tinh thần đoàn kết tốt, chúng ta cần hướng dẫn các em thực hiện những chuẩn mực đạo đức như thế nào, giúp các em nhận thức và thực hành tốt những chuẩn mực đạo đức ấy?

Xuất phát từ vấn đề đó, Tổ chúng tôi tiến hành nghiên cứu, trao đổi và tiến tới xây dựng chuyên đề: “Hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh thông qua môn đạo đức lớp 2”. Trong chuyên đề nhỏ này chúng tôi tập trung nghiên cứu sâu một khía cạnh của vấn đề “Đoàn kết, yêu thương”.

II. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ

1. Đối với giáo viên

-  Giúp giáo viên, hiểu rõ hơn sâu hơn, các kỹ năng sư phạm cần thiết trong việc hình thành và phát triển những tri thức đạo đức đơn giản cho học sinh. Từ đó xây dựng kế hoạch chương trình, quản lý hoạt động chuyên môn của môn học Đạo đức khoa học hơn, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy môn học Đạo đức và hình thành tốt ý thức cho học sinh để biết lựa chọn đúng những chuẩn mực đạo đức để thực hiện trong cuộc sống đối với các mối quan hệ đối với mọi người xung quanh;

- Giúp giáo viên khắc phục những tình trạng dạy chay, dạy qua loa, chưa coi trọng môn học; xác định đúng nhiệm vụ cần thiết và mục tiêu môn học, qua đó cần tích cực đổi mới bản thân, đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp ứng dụng để hướng dẫn học sinh biết lựa chọn hành vi đạo đức phù hợp;

- Giúp giáo viên tự rút ra những kinh nghiệm thông qua trải nghiệm thực tế trên lớp học của mình, để từ đó tự hoàn thiện các kỹ năng, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực hơn;

- Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên những kỹ năng cần thiết để xây dựng chuyên đề, cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo chuyên để tại cơ sở đạt hiệu quả tốt hơn. Nâng cao chất lượng của sinh hoạt chuyên môn trường đạt hiệu quả như mong đợi;

- Tạo mối quan hệ chia sẻ học tập, giúp đỡ lẫn nhau giữa giáo viên và các tổ chuyên môn trường về vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy môn Đạo đức cũng như hình thành tốt cho học sinh các kỹ năng về chủ đề đoàn kết - yêu thương.

2. Đối với học sinh

- Hình thành và phát triển cho học sinh những giá trị đạo đức, phù hợp với lứa tuổi, với thuần phong mỹ tục, với những mối quan hệ gia đình xã hội, bạn bè, cuộc sống xung quanh;

- Giúp học sinh biết lựa chọn hành vi đạo đức phù hợp áp dụng trong cuộc sống như quan tâm chia sẻ với bạn bè, giúp đỡ người tàn tật, người kém may mắn, cụ già em nhỏ, biết vươn lên học tập tốt và giúp đỡ bạn cùng tiến bộ…

- Xây dựng cho học sinh nền tảng đạo đức tốt để tiếp tục mở rộng ở các lớp học trên; góp phần hình thành nhân cách của học sinh một cách toàn diện.

Từ những hạn chế trên, tổ khối 2 chúng tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học tập của học sinh qua kết quả khảo sát, cụ thể như sau:

TSHS

Khối 2

Trước khi thể nghiệm

HTT

HT

C

SL

%

SL

%

SL

%

126

31

25

49

39

46

36

III. PHÂN TÍCH SƯ PHẠM

1.Giới thiệu về chương trình dạy học

  Chương trình môn Đạo đức ở lớp 2 gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi đạo đức lựa chọn từ các chuẩn mực ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Thời gian thực hiện cả năm là 35 tiết, trong đó có 28 tiết để thực hiện 14 bài bắt buộc, 3 tiết dành cho địa phương, 4 tiết dành cho ôn và kiểm tra học kỳ I, kiểm tra học kỳ II, kiểm tra cả năm.

Với chủ đề "Đoàn kết- yêu thương”, thì chuẩn mực hành vi được thiết kế theo tính đồng tâm từ lớp dưới đến lớp trên, ở các lớp trên thì mức độ yêu cầu chuẩn mực cần đạt được nâng cao hơn. Ở lớp 2 với phạm trù đoàn kết, yêu thương các em cần đạt:

Biết được bạn bè phải quan tâm giúp đỡ lẫn nhau; biết nhắc nhở nhau cùng học tập sinh hoạt đúng giờ, cùng vươn lên học tập tốt.

Nêu được một vài biểu hiện cụ thể của việc quan tâm, giúp đỡ bạn bè trong học tập, lao động và vệ sinh hàng ngày.

Biết quan tâm giúp đỡ bạn bằng những việc phù hợp với khả năng.

Biết làm một số việc để giúp đỡ cha mẹ. Biết tự giác học tập và giúp đỡ bạn trong học tập để cùng tiến bộ.

Biết mọi người đều cần phải hỗ trợ, giúp đỡ đối xử bình đẳng với người khuyết tật. Biết nhận lỗi và sửa lỗi.

Nêu được một số hành động, việc làm phù hợp để giúp đỡ người khuyết tật.

Có thái độ cảm thông, không phân biệt đối xử và tham gia giúp đỡ người khuyết tật trong lớp, trong trường và ở cộng đồng phù hợp với khả năng.

2. Nội dung kiến thức/ Kĩ năng liên quan

2.1. Về kiến thức

- Chuẩn bị cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu cần thiết, cho sự hình thành và phát triển nhân cách người công dân, người chủ tương lai của đất nước, biết sống vươn lên để  học tập và làm việc tốt.

- Cung cấp cho học sinh những hành vi ứng xử trong các mối quan hệ, đối với bản thân, đối với người khác, đối với gia đình, nhà trường, xã hội. Biết quan tâm chia sẻ giúp đỡ mọi người;

- Đảm bảo tính truyền thống và tính hiện đại, tính dân tộc trong hành vi ứng xử;

- Đảm bảo tính cụ thể phù hợp với lứa tuổi của các chuẩn mực hành vi;

- Đảm bảo tính đồng tâm của các chuẩn mực hành vi từ lớp 1 đến lớp 5;

- Đảm bảo các chuẩn mực đạo đức:

+ Chuẩn mực điều hành hành vi: có giá trị tích cực như phải làm và nên làm;

+ Chuẩn mực điều hành hành vi: có giá trị tiêu cực như không được làm, không nên làm;

+ Chuẩn mực hành vi: có giá trị trung hòa như có thể làm;

- Giúp học sinh có hiểu biết ban đầu một số chuẩn mực hành vi phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ giữa bản thân với gia đình, cộng đồng. Hiểu được ý nghĩa của mỗi hành vi đạo đức đó.

* Chương trình môn Đạo đức ở lớp 1 được thiết kế theo hướng xác định quyền trách nhiệm, bổn phận đối với học sinh. Bao gồm 14 chuẩn mực hành vi đạo đức đơn giản, quen thuộc với học sinh theo năm mối quan hệ trong cuộc sống.

* Chương trình đạo đức ở lớp 2 có 14 bài bắt buộc và 1 bài do địa phương tự chọn sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình (về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, ...) tương tự như lớp 1 nội dung chương trình đạo đức lớp 2 phản ánh các mối quan hệ của học sinh với bản thân, với gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và môi trường tự nhiên.

* Ở lớp 3 chương trình môn Đạo đức bao gồm 14 bài phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết nhất, phù hợp với lứa tuổi của các em. Các bài học này nhằm xây dựng cho học sinh tính kiên trì, bền bỉ trong học tập, biết giúp đỡ và chăm sóc những người thân, những người có hoàn cảnh khó khăn, ... Đó là những điều rất cần thiết cho việc hình thành phát triển nhân cách học sinh.

Do đó toàn bộ nội dung chương trình môn Đạo đức ở Tiểu học đều mang tính kế thừa, đồng tâm trên nền tảng của năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng.

2.2. Về kỹ năng

- Hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực thể hiện sự đoàn kết yêu thương và kỹ năng lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực;

- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, đoàn kết, chia sẻ với những khó khăn của người khác, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu,…

3. Phương pháp dạy môn Đạo dức lớp 2

Trong chương trình Đạo đức lớp 2 nói riêng và các lớp 1, 3, 4, 5 nói chung được xây dựng theo chủ đề học tập khác nhau. Mỗi chủ đề là các bài Đạo đức khác nhau nhưng bài nào cũng được phân làm 2 tiết, mỗi tiết ứng với các phương pháp đặc trưng khác nhau. Qua quá trình nghiên cứu học hỏi, thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy có các nhóm phương pháp chính sau:

* Nhóm phương pháp hình thành ý thức bao gồm: Kể chuyện; Quan sát; Đàm thoại; Thảo luận và phân tích tình huống.

Kể chuyện: Là phương pháp dùng lời kể kết hợp với sử dụng điệu bộ, cử chỉ hoặc tranh minh hoạ, con rối, ... để thuật lại nội dung một chuyện nào đó. Trong thời giờ Đạo đức, đó là các truyện kể về cách ứng xử của nhân vật trong một tình huống có vấn đề vê đạo đức. Phương pháp kể chuyện rất phù hợp với học sinh lớp 2, giúp cho bài học Đạo đức, đến với trẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, sống động, cùng với phương pháp kể chuyện thì thảo luận nhóm là phương pháp sử dụng rộng rãi. Còn Đàm thoại là phương pháp tổ chức trò chuyện giữa thầy - trò hoặc trò - trò về một chủ đề đạo đức trên một hệ thống câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh đi đến chuẩn mực đạo đức các em cần nắm và thực hiện. Phương pháp đàm thoại giúp học sinh phát huy vốn kinh nghiệm đạo đức đã có; chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm của thầy, của bạn, tiếp thu bài học một cách tích cực, chủ động; tránh được xu hướng thuyết lý khô khan, áp đặt, nặng nề.

Cùng với phương pháp kể chuyện đàm thoại, phương pháp thảo luận phân tích tình huống nhằm giúp học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình học tập tạo điều kiện cho các em có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến, hay để giải quyết một vấn đề đạo đức nào đó.

Ví dụ: Ở bài 2 "Biết nhận lỗi và sửa lỗi" - Tiết 1. Giáo viên sử dụng phương pháp kể chuyện, thảo luận nhóm.

Nhóm phương pháp luyện tập, rèn luyện hành vi thói quen và cách ứng xử. Bao gồm: Tập luyện thực hành; ứng xử tình huống; động não; Tổ chức trò chơi; Đóng vai.

Luyện tập thực hành là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành luyện tập theo mẫu hành vi đã xác định ở tiết 1. Đồng thời để củng cố lại kiến thức đã học. Các em thực hành luyện tập làm các bài tập giải quyết tình huống trong vở bài tập đạo đức. Cùng với phương pháp luyện tập thực hành là phương pháp đóng vai. Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử và bày tỏ thái độ trong tình huống cụ thể. Đóng vai gây chú ý và hứng thú cho các em. Qua đó tạo điều kiện nảy sinh óc sáng tạo của học sinh đồng thời khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức. Qua đóng vai có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. Còn phương pháp Tổ chức trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát hiện và chiếm lĩnh những nội dung học tập thông qua việc chơi một trò chơi nào đó. Qua trò chơi các em không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất hành vi đạo đức. Chính vì vậy trò chơi được sử dụng trong tiết đạo đức như là một phương pháp dạy học quan trọng để giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh.

Nội dung trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh động cho các mẫu hành vi đạo đức. Nhờ vậy, những mẫu hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi rõ ràng và lâu bền.

Qua trò chơi, học sinh được tập luyện những kỹ năng, những thao tác hành vi đạo đức, được thể hiện nãy sẽ hình thành được ở học sinh niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.

- Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng biết lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.

- Bằng trò chơi, việc luyện tập thực hành về các hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ nhàng sinh động, không gây khô khan nhàn chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm đồng thời giải toả được mệt mỏi căng thẳng.

Cùng với phương pháp luyện tập thực hành, phương pháp đóng vai, tổ chức trò chơi, thì Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nẩy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.

Tóm lại: Trong các phương pháp trên, không có phương pháp nào là vạn năng, mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng biệt, song nó sẽ không có hiệu quả khi người dạy không biết sử dụng đúng lúc, đúng mục đích trong một tiết dạy. Hơn nữa tuỳ thuộc vào tiết 1 hay tiết 2 của một bài đạo đức mà người giáo viên sử dụng phương pháp cho phù hợp. Tiết học có đạt được kết quả cao hay không nhờ khả năng kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học với nhau, lấy phương pháp này bổ trợ cho phương pháp kia.

4. Những khó khăn, sai lầm thường gặp và cách khắc phục

4.1. Những khó khăn, sai lầm thường gặp

- Về giáo viên: Trình độ của giáo viên ngày được nâng cao nhưng thực tế năng lực chuyên môn của các giáo viên chưa đồng đều; một bộ phận giáo viên chưa thật sự quan tâm công tác giáo dục đạo đức học sinh, còn thờ ơ trước những phát biểu chưa đúng chuẩn mực mà giáo viên không uốn nắn, giáo dục tại chỗ để các em hiểu được, thấy được các hành vi sai trái của mình và thực hiện tốt về sau. Ngoài ra, còn không ít giáo viên ngại đổi mới trong giảng dạy. Một số giáo viên đang xem nhẹ môn Đạo đức nên việc đầu tư chưa nhiều, chưa khai thác tốt ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

- Về phía học sinh: Tâm lý của học sinh lớp 2 chủ yếu là bắt chước, hành động theo cảm tính, bản năng. Việc tiếp cận thông tin trên mạng cũng như thực tế ngoài xã hội như xem phim ảnh, clip đánh nhau, người lớn cũng thường hay nói tục, chửi thề nên các em học sinh dễ học và làm theo. Khi đó, giáo viên và phụ huynh không kịp thời uốn nắn, nhắc nhở nên lâu ngày trở thành thói quen dẫn đến hành vi một số em chưa được tốt.

- Về phía Phụ huynh: Kinh tế một số gia đình còn nhiều khó khăn, đa phần làm thuê ở nơi xa, gửi con cho người thân. Bên cạnh đó, không ít phụ huynh cưng chiều con quá mức, thiếu quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, các kỹ năng sống cho con em.

4.2. Cách khắc phục

Đối với giáo viên:

Tích cực sinh hoạt tổ chuyên môn trường, cụm trường, chia sẻ kinh nghiệm hay trong cách giảng dạy môn Đạo đức, tự học, tự bồi dưỡng qua nhiều kênh thông tin để nâng cao năng lực giảng dạy, nhất là môn Đạo đức.

Giáo viên phải luôn quan tâm công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trước những hành vi sai trái để kịp thời uốn nắn, giúp các em hiểu và thấy được để thực hiện tốt hơn về sau.

Cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng trước khi lên lớp. Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá và phối hợp tốt với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh.

Đối với học sinh:

- Thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, nội quy và nề nếp của lớp, trường.

- Tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm, phong trào, hội thi trong và ngoài nhà trường.

- Học tập và làm theo gương người tốt việc tốt.

Đối với phụ huynh:

- Tham dự đầy đủ các cuộc họp Ban đại diện cha mẹ học sinh.

- Thường xuyên quan tâm phối hợp với giáo viên và nhà trường để kịp thời uốn nắn, giáo dục con em tại gia đình.

- Phụ huynh cần cân nhắc kĩ lưỡng cách quan tâm, giáo dục và làm gương tốt cho con em mình noi theo.

4. Liên hệ thực tế

Đối với học sinh còn hay nghịch ngợm, chọc phá, cãi nhau với bạn, chưa nhận thức được những hành vi đạo đức tốt: Giáo viên cần phân tích cho các em hiểu được tác hại của việc chọc phá hoặc cãi nhau với bạn:

Thứ nhất, sẽ làm cho cả hai bị đau, bị tổn thương, không được bạn bè chơi chung;

Thứ hai, không nghe lời sẽ bị thầy cô nhắc nhở, phê bình, không được nhận lời khen và  mọi người xa lánh;

Thứ ba, sẽ không được mọi người yêu quý, cha mẹ, thầy cô buồn phiền.

 Đối với những học sinh này, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến những diễn biến tâm lý và tình cảm để kịp thời ngăn chặn những sai lầm của các em. Giáo viên cần hướng dẫn các em nhận thức được hành vi đúng - sai qua bài học đạo đức và các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày.

Đối với học sinh sống khép kín, ít quan tâm đến mọi người xung quanh: Những học sinh ở lớp có biểu hiện này chủ yếu hành vi của các em được hình thành từ chỗ thiếu tự tin hoặc do giáo dục từ gia đình nên các em ít quan tâm đến bạn bè. Ở lứa tuổi này các em chưa nhận thức hành vi đúng cần thực hiện nên giáo viên cần tạo niềm tin cho các em. Giáo viên không chỉ là người giảng dạy trên lớp mà còn là người bạn để các em có thể gần gũi, tâm sự. Luôn động viên để các em tự tin hơn, biết chia sẻ với bạn. Bên cạnh đó, giáo viên nên tổ chức các hoạt động trò chơi học tập để tạo cơ hội cho các em được tham gia vào hoạt động chung cùng bạn bè. Thông qua những hoạt động trò chơi trong và ngoài giờ lên lớp các em biết hỗ trợ, tự tin, thân thiện, đoàn kết và yêu thương nhau hơn.

Đối với những học sinh chưa biết chia sẻ, giúp đỡ bạn: Đối tượng này có thể một phần ảnh hưởng và tác động giáo dục từ gia đình như ở nhà mẹ dặn: Đồ của con không được cho ai mượn, bánh của mình không cho bạn ăn (sợ con làm mất đồ dùng, sợ con bị đói nên ba mẹ hay dặn vậy.)… Gặp trường hợp này giáo viên nên tạo ra những tình huống đạo đức để các em nhận thấy rằng trong cuộc sống mọi người cần có bạn bè và cần bạn bè chia sẻ. Giáo viên nên sưu tầm những mẩu chuyện, video clip về giáo dục hành vi đạo đức cho các em.

  1. Chuẩn bị thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo

Để tiết dạy đạt hiệu quả, trước tiên các thành viên trong tổ chuyên môn thiết kế lại bài dạy cho phù hợp với học sinh lớp mình, trường mình. Chuẩn bị đồ dùng dạy học phù hợp với bài dạy, tiết dạy như là phiếu bài tập, dụng cụ học tập, dụng cụ hóa trang để đóng vai… Đồ dùng dạy học phải được lựa chọn kỹ càng, phù hợp nội dung bài, với mục tiêu tiết học, với mục đích sử dụng. Đồ dùng học tập phải được chuẩn bị tốt, mang tính sư phạm, sử dụng đúng lúc và đạt hiệu quả.

  1. Phát hiện đề xuất trong dạy học                                                         

Dạy học môn Đạo đức là quá trình chuyển các giá trị đạo đức thành ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi đạo đức cho học sinh. Điều này chỉ đạt được khi học sinh hứng thú tích cực tham gia vào quá trình học tập, trong quá trình đó giáo viên khai thác được những kinh nghiệm sống của các em, giúp các em tìm tòi để phát hiện những tri thức đạo đức đúng đắn phù hợp nên trong dạy học giáo viên cần lưu ý những điểm sau:

- Phải thiết kế bài dạy và chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học phù hợp trước khi lên lớp;

- Xây dựng các tiết dạy thực nghiệm đúng chuyên đề, lựa chọn các phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp như: Phương pháp trò chơi, kể chuyện, quan sát, đàm thoại, nêu gương… Các kỹ thuật dạy học như: Khăn trải bàn, nhóm đôi, trình bày một phút, động não, ổ bi, … để phát huy được tính tích cực tự học của học sinh;

-  Rút kinh nghiệm những mặt đạt được, chưa được sau mỗi tiết dạy và vận dụng vào thực tế.

- Xây dựng môi trường học tập đoàn kết, thân thiện, kịp thời động viên khích lệ tuyên dương học sinh để các em tự tin vươn lên;

- Kịp thời sửa chữa các hành vi lệch chuẩn cho các em;

- Hình thành cho các em các thói quen kỹ năng làm việc độc lập và hợp tác nhóm;

- Luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh trong lớp, có biện pháp giúp đỡ đúng mực;

- Cần tạo điều kiện cho các em được bày tỏ thái độ, động viên, khuyến khích, tuyên dương kịp thời; tôn trọng, đối xử công bằng, tạo niềm tin tuyệt đối với các em;

- Bên cạnh đó, người giáo viên phải luôn nhiệt tình, có kiến thức và hiểu biết xã hội đa dạng, có kinh nghiệm trong ứng xử các tình huống sư phạm. Đặc biệt, người giáo viên phải luôn là một tấm gương đạo đức trong cuộc sống hàng ngày để các em noi theo.

IV. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

Hoạt động

Thời gian

Công việc

Người thực hiện

Sản phẩm

1. Nghiên cứu và phân tích sư phạm

 

Tuần 1,2

 

Cá nhân nghiên cứu, Phân tích sư phạm (1)

GV tổ 2

 

Văn bản báo cáo mục I – IV theo mẫu đề cương

Thống nhất Phân tích SP và kế hoạch triển khai CĐ

GV tổ 2

Họp thông qua báo cáo về CĐ.

Tổ trưởng CM

2. Soạn bài, dạy thể nghiệm, Dự giờ thảo luận từng tiết.

Tuần 2

Bài: Học tập, sinh hoạt đúng giờ

Cả nhóm thiết kế

GV dạy

 Dương Văn Cương

 

Bản Thiết kế các bài dạy; phiếu dự

giờ & kết quả đạt được.

Tuần 3

Bài: Biết nhận lỗi và sửa lỗi

Cả nhóm thiết kế

Giáo viên dạy

Phan Văn Khởi

Tuần 4

Bài: Gọn gàng, ngăn nắp

Cả nhóm thiết kế

Giáo viên dạy

Nguyễn Tấn Dũng

 

3. Thảo luận chung

( KLSP)

Hoàn chỉnh chuyên đề

Tuần 5

3.1. Họp thảo luận

GV tổ 2

Biên bản họp thảo luận

3.2. Thông qua kết luận sư phạm.

Tổ trưởng CM

3.3. Hoàn chỉnh kết luận sư phạm

Tổ trưởng CM

Tuần 6

 

3.4.Viết tổng kết  chuyên đề

Tổ trưởng CM

3.5. Báo cáo tổng kết chuyên đề, thông qua SKKN, thảo luận góp ý bổ sung, thống nhất nội dung.

Tổ trưởng CM + GV

3.6. Hoàn chỉnh chuyên đề lần cuối

Tổ trưởng CM

Văn bản tổng hợp

Tuần 7

3.7. Báo cáo chuyên đề và xem tiết minh họa Bài

“Biết nhận lỗi và sửa lỗi

Tổ trưởng CM và giáo viên dạy

Huỳnh Tấn Phát

  

V. KẾT QUẢ CÁC TIẾT DẠY/BÀI DẠY

1. Thiết kế hoạt động dạy thể nghiệm/đối chứng, so sánh

Mỗi lớp/mỗi đối tượng học sinh, mỗi hoạt động có thể thiết kế bài dạy khác nhau nhằm phù hợp với đối tượng.

   1. Thiết kế bài dạy

   Bài                               BIẾT NHẬN LỖI VÀ SỬA LỖI  

                                                        (Tiết 1)

   I. Mục tiêu

      - Biết khi mắc lỗi cần phải nhận lỗi và sữa lỗi

      - Biết được vì sao cần phải nhận lỗi

      - Thực hiện nhận lỗi và sửa lỗi khi mắc lỗi

      - Học sinh biết ủng hộ, cảm phục các bạn biết nhận và sửa lỗi.

      - Rèn KN sống:

         + Kĩ năng ra quyết định và giài quyết vấn đề trong tình huống mắc lỗi

         + Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm đối với việc làm của bản thân

  II. Đồ dùng dạy - học

     - Giáo viên: Phiếu thảo luận nhóm, vở bài tập, bảng ghi tình huống.

     - Học sinh: Vở bài tập.

    III. Các hoạt động dạy - học

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

1. Ổn định

2. Kiểm tra bài cũ:

Học tập, sinh hoạt đúng giờ

    - GV nêu câu hỏi :

      + Tại sao em phải học tập và sinh hoạt đúng giờ ?

      + Em hãy nêu các công việc làm của em trong ngày ?

  - Nhận xét tuyên dương

3. Bài mới:

   a. Giới thiệu bài : Khi có lỗi, chúng ta phải làm thế nào để tỏ ra là người dũng cảm và trung thực để được mọi người yêu mến. Bài học hôm nay sẽ giúp các em.

          Gv ghi tựa bài lên bảng.

   b.Phát triển các hoạt động

Hoạt động 1:  phân tích tuyện cái bình hoa

a.Mục tiêu : giúp học sinh xác định ý nghĩa của hành vi nhận và sửa lỗi, lựa chọn hành vi nhận và sửa lỗi.

b. Cách tiến hành

  .- Giáo viên kể chuyện: “Cái Bình Hoa”

     - Giáo viên kể từ đầu đến đoạn: “ba tháng trôi qua, không còn ai nhớ đến cái bình vỡ” thì dừng lại và hỏi :

          + Nếu vô-va không nhận lỗi thì điều gì sẽ xảy ra ?

          + Các em thử đoán xem vô-va đã nghĩ gì và làm gì sau đó?

 

 

      - GV kể hết đoạn cuối câu chuyện

     - Yêu cầu tiếp tục thảo luận nhóm.

        + Vì sao Vô-va lại trằn trọc không ngủ?

         + Qua câu chuyện em thấy cần làm gì sau khi mắc lỗi?

        + Nhận lỗi và sửa lỗi đem lại tác dụng gì?

Kết luận: ai cũng có thể mắc lỗi nhưng điều quan trọng là biết nhận lỗi và sửa lỗi thì sẽ mau tiến bộ và được mọi ngừơi yêu quý.

Hoạt động 2 :  Bày tỏ ý kiến, thái độ

   a.Mục tiêu: Giúp học sinh bày tỏ ý kiến thái độ của mình.

b. Cách tiến hành

GV cho HS đọc yêu cầu bài tập 2 trang 6

Gv nhận xét từng câu

GV Kết luận: Biết nhận lỗi và sửa lỗi mới đáng khen và trung thực.

4. Củng cố

    - GV hỏi: Hôm nay em học bài gì?

  * Liên hệ thực tế:

     Tình huống: Lan chẳng may làm gãy bút của Mai. Lan đã xin lỗi bạn và xin mẹ mua chiếc bút khác đền cho Mai. Vậy việc làm của Lan đúng hay sai? Vì sao?

    

 

    -  Gv nhân xét  tuyên dương

    - Giáo dục

5. Dặn dò

    - Nhận xét tiết học

    - Về sưu tầm các câu chuyện kể hoặc tự liên hệ bản thân và những người xung quanh những trường hợp nhận và sửa lỗi.

    - Về xem các bài tập còn lại

- Hát

 

 

-Trả lời :

  Học tập và sinh hoạt đúng giờ để đảm bảo sức khỏe

   Đi học, về nhà, ăn cơm, nghỉ ngơi , học bài…

 

 

Hs lắng nghe

 

 

 

Hs nhắc lại tực bài

 

 

 

 

- Các nhóm học sinh theo dõi câu chuyện.

- Các nhóm thảo luận và xây dựng phần kết của câu chuyện.

    + Thì sẽ quên luôn.

 

 +Vô-va day dứt nhờ mẹ mua 1 cái bình cho cô…

- Đại diện nhóm trình bày.

- HS  nhận xét, bổ xung.

- Các nhóm tiếp tục thảo luận và trả lời câu hỏi.

- Vì nhớ lại chuyện cái bình hoa bị vỡ.

- Phải biết nhận lỗi và sửa lỗi

 

- Giúp em được mọi người yêu quý

 

 

 

 

 

 

- HS làm bài tập 2 trên phiếu BT.

- Hs đồng ý thì đưa cờ đỏ và không đồng ý thì đưa cờ màu xanh

 

 

 

Hs: Biết nhận lỗi và sửa lỗi

- Thảo luận nhóm theo các tình huống.

- HS phát biểu :

     Việc làm của Lan là đúng. Vì bạn đã nhận và sửa lỗi.

- Đại diện nhóm trình bày – học sinh bổ sung giữa các nhóm.

 

Hs: lắng nghe.

 

2. Kết quả

  Khi tiến hành áp dụng những giải pháp từ nội dung chuyên đề, tiến hành dạy thể nghiệm ở khối 2 Trường Tiểu học Đại Ân 1A và kết quả phẩm chất “Đoàn kết -yêu thương” đạt như sau:

TSHS

Khối 2

Trước khi thể nghiệm

Sau khi thể nghiệm

HTT

HT

C

HTT

HT

C

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

126

31

25

49

39

46

36

67

53

43

34

16

13

Từ kết quả cho thấy, thái độ hành vi của các em có sự chuyển hướng tích cực: Học sinh biết nói lời xin lỗi và nhận lỗi với bạn bè trong lớp một cách tự giác cũng như mọi người xung quanh. Một số em còn lại thì giáo viên tổ 2 sẽ giúp các em nhận biết được trong thời gian tới.

VI. KẾT LUẬN SƯ PHẠM

Sau thời gian nghiên cứu, trao đổi, xây dựng và áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực vào thực tiễn dạy học môn Đạo đức lớp 2, đến cuối tháng 10 năm học 2020 - 2021 thu nhận được kết quả cụ thể như sau:

Phần lớn giáo viên thống nhất với phương pháp dạy học tích cực đã được áp dụng. Các hình thức tổ chức dạy học được nhất quán, thuận tiện trong công tác dự giờ rút kinh nghiệm, chia sẻ trong sinh hoạt chuyên môn.

Trong giờ học môn Đạo đức và các giờ học khác hầu hết học sinh có tiến bộ hơn so với trước, các em thân thiện, hòa đồng biết giúp đỡ nhau trong học tập và trong cuộc sống; hăng hái tích cực, hòa đồng hơn, thích tham gia vào quá trình học tập, ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày tốt hơn.

Giáo viên nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cho học sinh, bên cạnh đó giờ học đạo đức cũng được quan tâm đầu tư đúng mức.

Phụ huynh quan tâm giáo dục, xây dựng cho con em thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức, cũng như biết chia sẻ quan tâm đến mọi người xung quanh.

Chuyên đề “Hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh thông qua môn Đạo đức lớp 2” được xây dựng và tổ chức tại Trường Tiểu học Đại Ân 1A. Trong quá trình xây dựng áp dụng thể nghiệm ở lớp 2 đã đem lại kết quả khả quan, nhưng không tránh khỏi sự thiếu xót, rất mong BGH và thầy cô đóng góp cho chuyên đề hoàn chỉnh hơn. Tập thể Tổ 2 xin chân thành cảm ơn!

Duyệt của lãnh đạo nhà trường                                            Người thực hiện

         P. Hiệu trưởng                                                            Tập thể Tổ 2

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 5
Tháng 01 : 208
Năm 2022 : 208
Tin tức - Sự kiện
Tin đọc nhiều